Chatbox

Các bạn vui lòng dùng từ ngữ lịch sự và có văn hóa,sử dụng Tiếng Việt có dấu chuẩn. Chúc các bạn vui vẻ!
30/07/2021 11:07 # 1
Hajimarimomvn
Cấp độ: 4 - Kỹ năng: 1

Kinh nghiệm: 22/40 (55%)
Kĩ năng: 0/10 (0%)
Ngày gia nhập: 18/06/2021
Bài gởi: 82
Được cảm ơn: 0
Phương pháp giáo dục Steiner(Waldorf) là gì? Giải thích các phương pháp giáo dục tôn trọng cá nhân


Đây là một chương trình giáo dục được phát triển bởi các triết gia người Áo và được giới thiệu trên khắp thế giới. Mục đích của giáo dục Steiner là coi trọng cá tính của mỗi cá nhân và phát huy tối đa khả năng của trẻ. Đặc biệt, sự cân bằng tăng trưởng của “ý chí cá nhân”,“tâm hồn” và “tư duy” là rất quan trọng. Sẽ là điều không tốt nếu chỉ có cơ thể lớn lên, hay trẻ quá dễ xúc động. Và cũng là điều không tốt nếu con chỉ phát triển mỗi kiến thức mà thiếu sót những điều còn lại. Ý tưởng cơ bản của giáo dục Steiner là ưu tiên con người có sự cân bằng tốt về ý chí cá nhân, tâm hồn và tư duy.

Sự ra đời của phương pháp giáo dục Steiner

Giáo dục Steiner được phát minh bởi nhà triết học người Áo – Rudolf Steiner. Rudolf Steiner nổi tiếng với việc thành lập “Hiệp hội Nhân chủng học – Anthroposophie” với mục đích “nghiên cứu thế giới tâm linh của thông qua các trải nghiệm khoa học và huyền bí” . Trường học đầu tiên áp dụng phương pháp giáo dục Steiner/ Waldorf được thành lập tại Đức vào năm 1919 đó là “Trường Waldorf Tự Do (Tiếng Đức:Freie Waldorfschule)”

Trường Waldorf Tự Do” là trường học được thành lập dành cho con cái của những công nhân làm việc trong các nhà máy sản xuất thuốc lá. Nhưng cũng được đông đảo con em của những công nhân khác tiếp nhận. Giáo dục Steiner được đặc trưng bởi việc thực hiện các bài học phù hợp với các nấc thang phát triển của trẻ trong suốt 12 năm từ tiểu học đến trung học. Ngày nay, hơn 1.000 trường học và hơn 1.500 trường mẫu giáo và nhà trẻ tại hơn 60 quốc gia trên thế giới đã áp dụng phương pháp giáo dục Steiner.

phương pháp giáo dục steiner

Chu kỳ 7 năm và sự tăng trưởng

Một đặc điểm của giáo dục Steiner là tôn trọng cá tính riêng của mỗi cá nhân và nhấn mạnh sự phát triển tốt nhất có thể của khả năng của mỗi cá nhân. Rudolf Steiner đã nắm bắt được quá trình lớn lên của con người theo chu kỳ 7 năm. Từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành, ông giải thích rằng trẻ em cần một phương pháp giáo dục phù hợp với chu kỳ tuổi của trẻ.

Ví dụ, từ 0 đến 7 tuổi có thể vận động cơ thể một cách chủ động và hướng dẫn trẻ làm những gì trẻ muốn khi chơi, đây là thời gian vừa học vừa bắt chước người lớn. Và từ 7 đến 14 tuổi được xác định là thời điểm để tăng độ nhạy bén. ông giải thích rằng đó là thời gian mà trẻ có thể học cách thiết lập trí nhớ của mình bằng cách chạm vào rất nhiều thứ nghệ thuật như thơ ca, âm nhạc và nghệ thuật. Ngoài ra, ông cũng cho rằng 14 đến 21 tuổi là thời điểm để phát triển khả năng tư duy, cũng là lúc cần suy nghĩ logic và xây dựng cái tôi chứ không chỉ để tiếp thu kiến ​​thức. Rudolf Steiner hướng đến mục tiêu phát triển dần dần cá tính của mỗi cá nhân bằng cách cung cấp “phương pháp học tập” phù hợp với từng lứa tuổi.

Đặc trưng của phương pháp giáo dục Steiner (Waldorf)

Điều cần lưu ý trong giáo dục Steiner là cái được gọi là “Vòng lặp huấn luyện (Tiếng Đức: Epochenunterricht)”. Nội dung cụ thể khác nhau tùy thuộc vào trường học, nhưng thông thường một giờ đầu tiên của buổi sáng, khoảng 100 phút, sẽ tập trung vào việc học ngoại ngữ, toán, khoa học, nghiên cứu xã hội,… trong khoảng thời gian từ 3 đến 4 tuần.

Bằng cách nghiên cứu chuyên sâu một chủ đề trong thời gian não bộ đang hoạt động tích cực, nội dung sẽ thấm sâu vào bộ nhớ của trẻ và hiệu quả học tập sẽ tăng lên. Ngoài ra, nghệ thuật di chuyển, do Rudolf Steiner nghĩ ra có tên “Eurythmy”, cũng được đưa vào lớp học. Trẻ sẽ di chuyển cơ thể để đọc nhạc và thơ, thể hiện âm thanh của âm nhạc và lời nói bằng toàn bộ cơ thể của trẻ. Và trong “Formen”, bằng cách vẽ các mẫu hình học khác nhau và tô màu chúng, trẻ có thể cảm nhận được sự đều đặn của hình thức và cảm nhận được sự cân bằng. Bằng cách đó, trẻ cũng có thể có được cảm giác như đang học toán học.



 
Copyright© Đại học Duy Tân 2010 - 2021